CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA TÍN HIỆU XUNG

 

I. KHÁI NIỆM

   Trong đời sống hằng ngày, con người thường xuyên phải thu nhận và trao đổi thông tin lẫn nhau. Chẳng hạn những tin tức như âm thanh, hình ảnh có thể truyền đi được là nhờ vào các hệ thống điện tử. Các hệ thống này biến đổi những tin tức trên thành đại lượng điện áp hoặc dòng điện. Kết quả của quá trình chuyển đổi là điện áp hoặc dòng điện phải tỉ lệ với lượng tin tức nguyên thủy. Ví dụ: Microphone biến đổi tiếng nói con người thành tín hiệu điện, Camera biến đổi hình ảnh thành những tín hiệu điện. Ta gọi chung đó là tín hiệu.

Các tín hiệu  có biên độ biến đổi theo thời gian được phân ra thành hai loại cơ bản , đó là tín hiệu liên tục (còn gọi là tín hiệu tuyến tính hay tín hiệu tương tự)  và tín hiệu gián đoạn (còn gọi là tín hiệu xung hay số).

Ngày nay trong kỹ thuật vô tuyến điện, có rất nhiều thiết bị hoạt động trong một chế độ đặc biệt đó là chế độ xung. Khác với những thiết bị điện tử làm việc trong chế độ liên tục, trong các thiết bị làm việc ở chế độ xung thì dòng điện hoặc điện áp tác dụng lên mạch một cách rời rạc theo một quy luật nào đó. Ở những thời điểm đóng hoặc ngắt điện áp, trong mạch sẽ phát sinh quá trình quá độ phá hủy chế độ công tác tĩnh của mạch.

Các thiết bị xung được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học kỹ thuật hiện đại như :Thông tin , điều khiển, ra đa, vô tuyến truyền hình, máy tính điện tử, điện tử ứng dụng.

Tùy theo nhiệm vụ mà trong các thiết bị  sử dụng nhiều loại sơ đồ xung khác nhau: Khác nhau về nguyên tắc cấu tạo, nguyên lý làmviệc cũng như  các tham số .Tổ hợp các phương pháp, các thiết bị để tạo và biến đổi dạng xung, để biểu thị và chọn xung gọi là kỹ thuật xung.

Tín hiệu hình sin được  xem là một tín hiệu tiêu biểu cho loại tín hiệu liên tục . Với tín hiệu này có thể xác định biên độ của nó tại từng thời điểm và nó được biểu như hình1-1.

Tín hiệu hình vuông được xem là một tín hiệu tiêu  biểu  cho  loại tiùn hiệu gián đoạn.Với tín hiệu này thì biên độ của nó  chỉ có hai giá trị là mức cao (High) và mức thấp (Low), thời gian để chuyển từ  mức biên độ  thấp lên biên độ cao hay từ biên độ cao  xuống biên độ thấp là rất ngắn và được xem như tức thời.

Hình 1-1

 

                        v =  Vmax sinwt                       

v = VH , nếu 0 £ t < t1

                                                            v =  VL , nếu  t1 £ t < t2             

Ngoài ra, tín hiệu xung (tín hiệu gián đoạn) còn có các dạng khác như: Xung tam giác, xung răng cưa , xung nhọn, xung nấc thang …                                                                            

a/ Xung tam giác             b/ Xung nhọn (Xung dạng hình mũ)

                     

c/ Xung răng cưa                                     d/ Xung nấc thang

 

Hình 1-3 : Các dạng  tín hiệu xung khác

            Qua một số thí dụ về các dạng xung ở trên, thông thường thời gian tồn tại của xung rất nhỏ so với chu kỳ lặp lại của nó và có những thời điểm biến đổi đột ngột. Tuy vậy, trong thực tế còn gặp những dãy xung mà thời gian tồn tại xung bằng hoặc lớn hơn một nửa  chu kỳ lặp lại của nó, những xung như vậy gọi là xung rộng.

            Mặt khác, khi nói đến khái niệm độ rộng của một xung nào đó là rộng hay hẹp thì nên hiểu đó không phải là một khái niệm tuyệt đối. Ví dụ : Trong kỹ thuật tự động dùng những loại xung có độ rộng đến hàng giây, trong thông tin liên lạc và Ra đa thì dùng những loại xung có độ rộng đạt micro giây.

Tóm lại, tín hiệu xung được định nghĩa như sau : Tín hiệu xung điện thế hay xung dòng điện là những tín hiệu có thời gian tồn tại rất ngắn, có thể so sánh  với quá trình quá độ trong các mạch điện mà chúng tác dụng . Do đó, đây là một khái  niệm rất quan trọng , nếu không tìm hiểu kỹ thì  thời gian của quá trình quá độ sẽ ảnh hưởng đến thiết bị xung.

 

II.  CÁC THÔNG SỐ CỦA TÍN HIỆU XUNG

Xét tín hiệu xung như hình 1-4 là một tín hiệu xung  vuông lý tưởng . Trong thực tế khó có một tín hiệu xung vuông mà chuyển mạch từ mức thấp lên mức cao và ngược lại là thẳng đứng như thế (ứùng với thời gian tăng và thời gian giảm là t= 0).

Khảo sát một vài thông số của tín hiệu xung.

1. Chu Kỳ Xung – Tần Số Xung

Độ rộng xung ton, là khoảng thời gian tồn tại của xung (ứng với thời gian mà biên độ có mức điện áp cao). Thời gian không xuất hiện xung (ứng với mức biên  độ thấp)  gọi là thời gian nghỉ, toff.

 Hình 1-4

 Chu kỳ xung

T = ton + toff

Tần số  lặp lại của xung được đo bằng Hz

 F = 1/T

Ý nghĩa của tấn số F : số  xung xuất hiện trong một đơn vị thời gian.           

2. Độ rỗng xung và hệ số lấp đầy

Độ rỗng của một dãy xung là tỉ số giữa chu kỳ lặp lại T đối với độ rộng xung ton và được ký hiệu là:

Q =  T / ton

Thông thường thời gian tồn tại của xung ton rất nhỏ so với chu kỳ lặp lại T. Trị số nghịch đảo của Q được gọi là  hệ số đầy của xung  và nó được tính theo công thức:

n =  ton / T.

3. Độ Rộng Xung                     

 

Hình 1-5

Đây là dạng  xung thực tế, với dạng xung này thì khi tăng biên độ điện áp sẽ có  thời gian  trễ tr, gọi là độ rộng sườn trước. Thời gian này  tương ứng  từ 10% đến 90% biên độ U. Ngược lại, khi giảm biên độ điện áp xung sẽ có thời gian trễ tf , gọi là độ rộng sườn sau . Thời gian này tương ứng từ  90% đến 10% biên độ U .

Độ rộng xung thực tế là:

ton  =  tr+  tf + tp

Độ sụt đỉnh xung  Du của xung điện áp là độ giảm biên độ xung ở phần đỉnh xung.Trong thực tế thường dùng độ sụt áp tương đối   &u  =   Du / u để dễ dàng so sánh mức sụt đỉnh của xung đối với biên độ của nó.

 

III. ĐẶC TÍNH CỦA CHUYỂN MẠCH ĐIỆN TỬ  (Linh kiện bán dẫn)

Trong luận văn này phần lớn đề cập đến lý thuyết kỹ thuật xung và số. Vì vậy, để thực hiện các chức năng khác nhau về việc biến đổi dạng xung, người ta dùng các phần tử thụ động như: Diode, Transistor, Op-amp. Do đó,  các mạch biến đổi xung muốn  hiểu rõ nguyên lý hoạt động, thì trước hết cần nắm vững về cấu trúc và bản chất lý thuyết của những linh  kiện trên.

1.Đại cương về Diode

1.1. Cấu trúc và đặc tính cơ bản của Diode

Ba loại vật liệu khác nhau  thường được sử dụng  để  chế tạo Diode là : Germanium (Ge), Silicon (Si), Gallium arsenide. Si hầu như đã thay thế  Ge để chế tạo Diode. Gallium arsenide đặc biệt hữu dụng trong những ứng dụng vi ba và những lĩnh vực liên quan đến tần số cao.

Diode bán dẫn là tên gọi chung của một họ linh kiện hai cực, cấu tạo cơ bản  dựa trên chuyển tiếp p-n. Điện cực nối với bán dẫn p gọi là cực anode, điện cực nối với bán dẫn n gọi là cực cathode, tiếp giáp giữa p và n  được gọi là mối nối của Diode.

Ø                   Khi chưa có phân cực (ở trạng thái cân bằng): Trước khi tiếp xúc, mỗibán dẫn nằm ở trạng thái cân bằng: Tổng số điện tích dương bằng tổng số điện tích âm trong thể tích. Khi tiếp xúc nhau, do sự chênh lệch nồng độ sẽ xảy ra hiện tượng khuếch tán của các hạt dẫn đa số: Lỗ trống khuếch tán từ p sang n, còn điện tử khuuếch tán theo chiều ngược lại. Chúng tạo nên dòng khuếch tán có chiều từ p sang n. Trên đường khuếch tán, các điện tích khác dấu sẽ tái hợp với nhau, làm cho trong một vùng hẹp ở hai bên mặt ranh giới có nồng độ hạt dẫn giảm xuống  thấp. Tại vùng này, bên vùng nghèo bán dẫn loại p tồn tại các phần tử thiểu số loại n (ion âm). Còn bên vùng nghèo loại n tồn tại các phần tử thiểu số loại p (lỗ trống), nghĩa là hình thành hai lớp điện tích không gian khác dấu đối diện nhau. Chúng bị lực hút của các ion trái dấu và lực đẩy của các ion cùng dấu, nên chúng được tồn tại trong vùng nghèo như hình 1-6a. Giữa hai lớp điện tích này sẽ có một sự chênh lệch  điện thế (bên n dương hơn bên p), gọi là điện thế tiếp xúc.

                       

Hình 1-6a                                              Ký hiệu

Phần tử đa số loại n có thể thắng lực hút của các lớp ion dương và lực đẩy của lớp ion  âm, để di chuyển đến vùng trung hòa loại p. Số lượng phần tử đa số rất lớn  nên được coi như bất biến, trong khi có một số đủ năng lượng vượt qua vùng nghèo để đến lớp p. Và ngược lại , phần tử  đa số loại p có thể vượt qua vùng nghèo để đến lớp n.

Ø       Khi có tác dụng của điện áp ngoài

-          Khi phân cực nghịch mối nối p-n: Nguồn điện áp V  được nối như hình 1-6b, bán dẫn p nối với cực âm, bán dẫn n nối với cực dương. Giả thuyết điện trở của bán dẫn ở ngoài vùng nghèo  ( còn gọi là miền trung hòa) là không đáng kể. Lúc đó gần như toàn bộ điện áp V đặt vào vùng nghèo, và nó có chiều cùng chiều với điện thế tiếp xúc, tình trạng cân bằng ban đầu  không còn nữa. Điện trường E (do điện áp V gây ra) cùng chiều với điện thế tiếp xúc, sẽ làm hạt dẫn đa số  loại p di chuyển về cực âm, còn hạt dẫn đa số loại n di chuyển về cực dương, nói cách khác là rời xa khỏi mặt ranh giới. Do đó vùng nghèo được mở rộng, điện trở vùng nghèo tăng. Lúc này, hình thành hàng rào điện thế là tổng của nguồn V và điện thế tiếp xúc, ngăn cản dòng đa số vượt qua nên nó có giá trị bằng không. Còn dòng trôi của hạt dẫn thiểu số  thì tăng theo V. Nhưng nồng độ hạt dẫn thiểu số vốn rất bé, cho nên trị số dòng này rất nhỏ và nó nhanh chóng đạt giá trị bão hòa khi V còn rất thấp. Dòng này sẽ tăng đột biến khi đạt đến ngưỡng điện áp đánh thủng.

                

Hình 1- 6b                                               Ký hiệu

-          Khi phân cực thuận mối nối p-n : Nguồn điện áp được nối như hình 1-6c, bán dẫn p nối với cực dương và bán dẫn n nối với cực âm  . Quá trình xảy ra ngược lại với quá trình trên. Điện trường E (do V gây ra ) ngược chiều với điện thế tiếp xúc. Hàng rào điện thế giảm, cho nên hạt dẫn đa số của hai bán dẫn sẽ vượt qua vùng nghèo đến miền đối diện. Tình trạng thiếu hạt dẫn  trong vùng nghèo sẽ được giảm đi, làm cho vùng nghèo bị thu hẹp lại và điện trở vùng nghèo giảm. Lúc này dòng đa số tăng nhanh theo điện áp V, còn dòng trôi của hạt dẫn thiểu số thì giảm theo V.

                       

Hình 1-6c                                                               Ký hiệu

 

1.2.  Đường Đặc Tính Của Diode

Quan hệ Volts – Amperes của Diode được mô tả như sau:

                         iD  =   Io[ exp(qvD/nkT)-1]   (1.1).

Các số hạng trong phương trình được định nghĩa như sau :

iD    : Dòng qua diode (A)

vd    : Hiệu điện thế rơi trên Diode (V)

Io     : Dòng  bão hòa ngược

q     : Điện tích electron,   1,6.10-19   J/V  ( C )

k     : Hằng số Boltzmann  ,   1,38.10-23  J/ok

            T    : Nhiệt độ tuyệt đối   (oK)

            n    : Hằng số kinh  nghiệm  ,  1 £ n £ 2

Ở nhiệt độ phòng  (300oK)

          VT  =   k.T/q  =   25 (mV)

 Do đó phương trình 1.1   có thể viết lại là

            iD  =   Io [ exp( vD /nVT)–1]   (1.2)

          Phương trình (1.2) cho ta thấy: Nếu vD £  VT thì dòng iD là dòng bão hòa nghịch  -Io , nếu vD  > VT và hoạt động ở  nhiệt độ 25oC  thì dòng điện thuận của Diode được giản lược như sau:

                                    iD   =    Io exp(vD /nVT)

          Những phương trình trên được minh họa ở hình 1-7  cho cả hai vật liệu Sillicon và Germanium.

Hình 1-7: Đặc tuyến Volts- Amperes

          Đặc tuyến thực của Diode có dạng hàm mũ. Khi phân cực thuận mối nối p-n, ở bên phải đặc tuyến V-A, thì điện trở tiếp xúc của chất liệu bán dẫn tỉ lệ thuận với điện trở thuận. Khi  phân cực nghịch mối nối p-n, bên trái đặc tuyến V-A, thì dòng điện rỉ Io tỉ lệ nghịch với điện trở nghịch. Khi Diode chịu một điện áp ngược lớn sẽ làm phá hủy tiếp giáp p-n.

            Điện áp rơi trên Diode khi  được phân cực thuận là

                        Vg  =  0,1v đến  0,3v  (chọn 0,2v) ,   Đối với Diode loại  Ge.

                        Vg   = 0,6v đến 0,8v  (chọn 0,7v)  ,  Đối với Diode loại Si.

          Mạch tương của Diode khi được phân cực thuận là:

g

 
                           

                        rd  :   Điện trở động

                        rd  =   nVT / (iD + Io) »  nVT / iD

            Diode lý tưởng  có rd = 0 và Vg = 0.      

 

2. Đại Cương Về Transistor

          Transistor thuộc họ linh kiện ba cực. Nếu Diode là loại linh kiện hai cực, bao gồm một bán dẫn loại p và một loại n, thì Transistor bao gồm hai bán dẫn loại p và một bán dẫn loại n đối với loại PNP, hai bán dẫn loại n và một bán dẫn  loại p đối với loại NPN.

          Sơ đồ  ký hiệu của Transistor được mô tả ở hình 1.8.

Chiều dòng điện được qui ước theo chiều của mũi tên.           

                       

Ký hiệu                            Ký hiệu           

Hình 1-8

          Đường cong đặc tính của Transistor  được biểu diễn ở hình 1-9. Đường đặc tính này là đường cong đặc tính Collector – Emitter, với thông số ngõ vào là dòng iB và vBE theo quan hệ như sau   iB = f(vBE)  và thông số ngõ ra là iC và vCE  theo quan hệ như sau  iC =  f(vCE).

     Đường tải tĩnh

 

Vùng khuếch đại

 
                                                    

                                                                            Hình 1-9

Nhìn trên  đường đặc tính   ta có thể phân   thành ba vùng làm việc của Transistor như sau :

-          Vùng tắt :  Transistor rơi vào vùng hoạt động này khi thõa mãn  điều kiện  sau: Mối nối BE và BC phải được phân cực nghịch . Khi đó, các thông số ngõ ra là dòng iC gần như bằng 0 và điện áp  vCE  gần bằng VCC .

-          Vùng khuếch đại : Transistor hoạt động trong vùng khuếch đại  khi mối nối BE được phân cực thuận (VB > VE ) và mối nối BC được phân cực nghịch (VC >VB).

 Ở chế độ này thì  IB  =   b IC

                                          IC  =    IE    ,   Với  b là hệ số độ lợi,  giá trị điển hình của  b biến thiên trong phạm vi  từ 20 đến 800 tùy theo loại Transistor.

Chúng ta sẽ phân tích mạch hình 1-10  để làm sáng tỏ hơn về đường cong đặc tính này.

 

Hình 1-10

Áp dụng định luật kirchoff 2 cho lưới vòng quanh từ cực  C  đến cực  E

Ta có VCC  =  iC  RC+  vCE +  iERE    (1.3)

 Mà iC  =  iE

Phương trình (1.3) có thể viết lại như sau:   VCC   =  iC(RC  + RE)  + vCE

Þ iC =  -vCE.1 /(RC + RE)  +   VCC .1/(RC +RE)

            Xem đây là phương trình đường tải tĩnh  (đường tải DC) và cách vẽ đồ thị đường thẳng này giống như phương pháp vẽ đồ thị  của hàm bậc nhất, tức là khi ic = 0 ,thì vCE =VCC  và khi vCE = 0 thì iC = VCC..    Điểm làm việc tĩnh là Q(VCEQ,ICQ).

Dạng đường tải tĩnh này được minh họa trên đường cong đặc tính  hình 1.9

-          Vùng bão hòa : Transistor làm việc ở vùng bão hòa cần  thõa mãn các điều kiện sau: Mối nối BC và mối  nối BE  đều được phân cực thuận .Transistor rơi vào vùng bão khi ngõ  vào  phải được cung cấp tín hiệu đủ lớn sao cho điện áp tại cực nền (VB)  lớn hơn một mức ngưỡng để Transistor phân cực bão hòa. Mức điện áp ngưỡng này là VBEsat , nó có trị số tùy thuộc vào từng  loại chất bán dẫn .

             VBEsat  =  0,7V  đến  0,8V    ,     Transistor loại Si

  VBEsat  =  0.3V                     ,     Transistor loại Ge

Khi sử dụng ở chế độ công tác chuyển mạch, Transistor thông thường mắc theo dạng E chung ( mắc CE ).

Khảo sát một dạng mạch mắc CE  ở hình 1-11 làm việc ở chế độ bão hòa.

Hình 1-11

Áp dụng định luật kirchoff 2 cho lưới vòng quanh cực C đến cực E

            Ta có VCC =  iC.RC  -  vCE               

Ở trạng thái bão hòa thì iC rất lớn và đạt đến ICsat , và vCE đạt VCEsat  =  0,1V đến 0,2V

 Từ  đó, ICsat được tính theo công thức sau :   ICsat  =   .

Khi đã có dòng điện tải IC , ta phải tính dòng điện cần thiết cấp cho cực nền B, nhằm chọn trị số RB thích hợp.  Ta xác định IBsat theo biểu thức :  

                                    IBsat   =  .ICsat

Trường hợp cần cho Transistor làm việc ở chế độ bão hòa sâu, thì có thể tính IB theo công  thức:

                        IBsat =  .k    ,Trong đó, k là hệ số bão hòa sâu  (k =  2  ¸ 5).

Khi Transistor bão hòa, các giá trị  IBsat  và ICsat  , đều do mạch ngoài quết định

Ta có thể xác định RB theo công thức sau :

RB =  

 

3. Đại Cương Về Op-Amp (Operational-Amplifier)

            Ngày nay, Op-amp là loại linh kiện được ứng dụng phổ biến trong lĩnh vực điện tử. Gần như mọi chức năng trong lĩnh vực này đều có thể dùng Op-amp để thực hiện. Chẳng hạn,  thực hiện các phép tính:  Cộng, trừ , tích phân trong máy tính tương tự, làm thành phần nồng cốt trong các mạch khuếch đại, mạch đo, bộ dao động, mạch tạo âm, mạch cảm biến.

            Op-amp là loại linh kiện được tích hợp, gồm hai ngõ vào: Đảo và không đảo, một ngõ ra. Op-amp hoạt động  được  phải cần cung cấp  cặp nguồn điện áp đối xứng dương và âm, điểm giữa của cặp nguồn  này được xem là mass (0V).  Do vậy, tín hiệu ở ngõ ra của bộ khuếch đại thuật toán có thể biến đổi cả về phía dương hay phía âm so với mass.

Op-amp có sơ đồ ký hiệu như  hình 1-12a. Hình 1-12b là trình bày mạch tương của nó. Mô hình gồm một nguồn áp phụ thuộc (phụ thuộc vào điện áp ngõ vào), trở kháng ngõ vào (Rin) và trở kháng ngõ ra (Ro).

                     

                        Hình 1-12a                                            Hình 1-12b

Điện áp  vào vi sai   vd =  v+ - v- 

Trở kháng ngõ vào của Op-amp  tương đương như một điện trở ở hình 1-12b.

Điện áp ngõ ra tỉ lệ thuận với điện áp ngõ vào, và ta biểu thị hệ số tỉ lệ này là độ lợi vòng hở (G). Vì vậy,  điện áp ngõ ra khuếch đại G lần điện áp vào vi sai và được xác định theo công thức sau :

vo  =  G (v+ -  v-)  = G .vd

Op-amp lý tưởng có những đặc điểm như sau:

-          Trở kháng ngõ vào,    Rin = 0

-          Trở kháng ngõ ra,    Ro = 0

-          Độ lợ vòng hở,   G ® ¥

-          Băng thông  BW  ® ¥

-           vo  =  0,  khi v+  =  v-

                        Ta có v+ - v- = vo /G    (1.4),    G tiến gần đến vô định, do đó phương trình (1.4) được viết lại như sau: v+ - v- = 0 ® v+ = v-

Bởi điện trở ngõ vào Rin ® ¥, nên dòng  điện chạy vào hai ngõ vào đảo và không đảo là zero

i+ =  i- = 0

Tùy thuộc điện áp ở hai ngõ vào này so sánh với nhau mà Op-amp sẽ làm việc một trong hai trạng thái sau:

·         Nếu  v+ > v-  thì vo = +V, gọi là trạng thái bão hòa dương .

·         Nếu  v+ < v- thì vo  = -V, gọi là trạng thái bão hòa âm.

Hai trạng thái bão hòa này tương đương với ngõ ra của  Op-amp ở hai mức điện áp cao và điện áp thấp, để tạo ra các xung điện.

Đặc tuyến truyền được thể hiện ở hình 1-13.

Hình 1-13

 

EYETECK.VN